phân tích bài lưu biệt khi xuất dương

Phân tích Lời chia tay khi ra đi dễ dàng hơn với gợi ý chi tiết, dàn ý và tuyển tập những bài văn hay phân tích nội dung và nghệ thuật bài thơ Chia tay khi ra nước ngoài - Phan Bội Châu.

Bạn đang xem: phân tích bài lưu biệt khi xuất dương

Kiểm tra nó ngay…

Bạn đang xem: Phân tích bài thơ “Tiễn biệt người ra nước ngoài” - Phan Bội Châu

Đề tài : Em hãy phân tích bài thơ Chia tay khi ra nước ngoài của Phan Bội Châu.

TÔI. Hướng dẫn làm bài tập về nhà Phân tích Lời chia tay khi ra đi

Đầu tiên. Phân tích yêu cầu bài viết

– Yêu cầu về nội dung: Phân tích nội dung và nghệ thuật của bài thơ Chia tay khi ra nước ngoài

– Phạm vi tư liệu: chi tiết, ngôn từ, hình ảnh… có trong tác phẩm Chia tay khi ra nước ngoài

– Phương pháp lập luận chủ yếu: phân tích.

2. luận án bài viết Lưu ý khi đi nước ngoài

– Luận điểm 1: Khái niệm mới về ý chí nam giới

– Luận văn 2 : Khẳng định tinh thần trách nhiệm của mỗi cá nhân trước thời đại

– Luận điểm 3: Thái độ kiên quyết trước hoàn cảnh đất nước

– Luận điểm 4: Ý muốn hành động, tư thế của người ra đi

II. Làm một bản phác thảo Phân tích bài thơ Chia tay khi ra nước ngoài

Đầu tiên. Khai mạc Phân tích Lời chia tay khi ra đi

– Giới thiệu tác giả Phan Bội Châu

– Giới thiệu chung về tác phẩm Chia tay khi ra nước ngoài

2. Thân hình phân tích Lưu ý khi xuất

Một. Hai câu chủ đề : Quan niệm mới về ý chí đàn ông

"Hệ vi sinh vật nam yếu, hi hi"

- Làm trai thì phải mong cái “lạ”: phải có lí tưởng sống, sống cao đẹp cao cả, dám mưu những việc phi thường. Không chấp nhận sự nhạt nhoà, tầm thường.

"Hứa rằng vũ trụ tự vận động"

- Không để trời đất xoay chuyển cuộc sống của mình, con người phải tự tạo ra vận mệnh và thời thế của mình, chủ động tự quyết định vận mệnh của mình. Giọng nói tự tin, mạnh dạn của một người đàn ông nói

=> Tư thế, thái độ cao đẹp về đấng nam nhi phải tin vào trình độ, tài năng của mình => Tuyên ngôn về ý chí làm người.

b. Hai câu thực: Khẳng định tinh thần trách nhiệm của cá nhân trước thời đại

“Ưu hành giả trăm năm ngã phải”

– “Năm trăm năm”: trăm năm là khoảng thời gian ước chừng nói về cuộc đời của mỗi người, cũng có nghĩa là một thế kỷ với nhiều biến động.

- “Thầy tự”: phải có tôi. Tác giả tự gọi mình là "tôi" một cách ngạo nghễ.

=> Ý thức trách nhiệm của cái tôi cá nhân trước thời đại, nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng của cá nhân đối với vận mệnh trăm năm. Điều này trái ngược với niềm kiêu hãnh cá nhân.

"Khởi xướng thùy hậu cánh"

– “Cánh không thùy” (có ai không): câu hỏi hướng đến thế hệ sau, đặc biệt là thế hệ thanh niên đang hoang mang, bế tắc. Phan Bội Châu là một người giác ngộ cách mạng sớm, một nhà yêu nước tiêu biểu, ông có đủ dũng khí để đi theo con đường mình đã chọn. Anh có lo thế hệ sau sẽ nhận thức được như anh không?

=> Bài thơ có mục đích tuyên truyền, cổ động cách mạng.

c. Hai bài luận: Thái độ kiên quyết trước hoàn cảnh đất nước

"Giang sơn tử hy sinh quần áo"

- Tác giả nhận thức được hiện thực đất nước “giang sơn tứ Xi” (nước đã mất), đất nước đã mất, rơi vào tay kẻ khác, chỉ còn là “cái xác không hồn”.

=> Tác giả trực tiếp bày tỏ cảm xúc “sống tủi nhục” (sống nhục hơn). Đây là một biểu hiện của lòng yêu nước.

* Liên hệ: Quan niệm về nhục và danh dự trong văn học trung đại

TRONG Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc , Nguyễn Đình Chiểu viết: “ Thà sa đầu bắt giặc, noi theo tiên tổ cũng vinh; Thà mang chữ đầu Tây, sống với mọi rợ khổ lắm "

=> Phan Bội Châu tỏ thái độ không muốn nhận nỗi nhục mất nước:

“Thánh hiền diệc tụng diệc kinh”

– Phan Bội Châu chối bỏ nền giáo dục Nho học, nhận thấy con đường khoa cử là vô ích. Người cách mạng cảm thấy sự tồn tại của mình có quan hệ trực tiếp với sự tồn vong của dân tộc

=> Hành động cởi mở, luôn tiếp thu những tư tưởng mới, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, đối lập với quan điểm cứu nước trì trệ, lạc hậu của các nhà Nho đương thời.

* Liên hệ: Nguyễn Khuyến cũng đặt câu hỏi “ Việc sử dụng sách vào thời điểm đó là gì? "

đ. Hai câu kết: Ý muốn hành động, tư thế của người ra đi

“Nguyện trục dài gió đông biển qua

Người lãng mạn nhất trong tất cả các nhà hảo tâm"

– Tác giả dựng lên một khung cảnh tuyệt vời, hiện lên qua hình ảnh thơ “long phong” (gió dài), “ngàn sóng bạc” (ngàn sóng bạc)

=> Từ hình ảnh ấy, tư thế của một con người đầy uy nghiêm, oai phong “nhất khí đồng bay” (cùng bay), một tư thế của một con người đang vươn lên trên hiện thực đen tối của thời đại, tư thế của con người vũ trụ.

=> Thể hiện khát vọng hành động: ra đi tìm đường cứu nước

3. Kết thúc Chia tay khi ra nước ngoài

– Khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm

+ Về nội dung: Khắc họa vẻ đẹp lãng mạn, hào hùng của người chí sĩ cách mạng những năm đầu thế kỉ XX với tư tưởng mới táo bạo, nhiệt huyết sôi nổi và khát vọng cháy bỏng trong ngày đầu ra đi. tìm cách tiết kiệm nước.

+ Về nghệ thuật: Giọng thơ thiết tha, sâu lắng nhưng sôi nổi, hào hùng; Thơ thất ngôn, luật bằng; Hình ảnh sống động với công suất truyền tải cao; Giọng thơ sôi nổi, rạo rực…

III. Bài văn phân tích Chia tay khi ra nước ngoài đạt điểm cao của học sinh lớp 11

Phan Bội Châu (1867-1940) tên thật là Phan Văn San, hiệu là Sào Nam, quê ở làng Đan Nhiệm, nay là xã Nam Hòa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Ông sinh ra và lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, tận mắt chứng kiến ​​sự thất bại của phong trào Cần Vương chống Pháp. Sự suy vong của chế độ phong kiến ​​kéo theo sự sụp đổ của hệ thống tư tưởng phong kiến ​​lỗi thời, lạc hậu. Tình hình đó đặt ra câu hỏi lớn cho các nhà chí sĩ yêu nước: Cứu nước bằng cách nào? Trong không khí u ám bao trùm cả nước lúc bấy giờ, những tia hy vọng đã bừng sáng qua nguồn Sách mới truyền bá những tư tưởng cách mạng dân chủ tư sản phương Tây với nội dung khác với những cuốn sách thánh hiền trước đây. . Người ta có thể tìm thấy ở đó những gợi ý hấp dẫn về một con đường cứu nước mới, hứa hẹn những triển vọng cho tương lai. Vì vậy, các nhà Nho tiên tiến đương thời như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh đã tiên phong dấn bước, bất chấp hiểm nguy, gian khổ.

Phan Bội Châu là một trong những nhà chính trị yêu nước đầu tiên mở đường cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc theo khuynh hướng dân chủ tư sản. Sự nghiệp của ông tuy không thành nhưng mãi mãi là tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước nồng nàn và ý chí chiến đấu kiên cường.

Sinh thời, Phan Bội Châu không coi văn chương là mục tiêu sống của mình, nhưng trong quá trình hoạt động cách mạng, ông đã tích cực sử dụng vũ khí tinh thần sắc bén đó để tuyên truyền, cổ động, động viên tinh thần thế giới. thần yêu nước của đồng bào ta. Tài năng văn chương, nhiệt huyết sôi sục và kinh nghiệm trong con đường cách mạng là cơ sở để Phan Bội Châu trở thành nhà văn, nhà thơ lớn với những tác phẩm xuất sắc như: Cái chết của Việt Nam trong lịch sử (1905), Huyết Thư hải ngoại (1906), nhà tù trung tâm (1914), Lịch sử Trùng Quang (1913 -1917), niên biểu Phan Bội Châu (1929)…

Năm 1904, ông cùng các đồng chí thành lập Duy Tân hội. Năm 1905, Hội chủ trương phong trào Đông Du, cử thanh niên ưu tú sang Nhật Bản học tập để chuẩn bị lực lượng nòng cốt cho cách mạng và tranh thủ sự giúp đỡ của các thế lực bên ngoài. Trước khi đi, Phan Bội Châu viết bài thơ Vĩnh biệt Xuất hành để nói lời tạm biệt với bạn bè và đồng chí:

Phiên âm chữ Hán:

Nam sinh yếu ớt,

Vũ trụ hứa hẹn sẽ tự di chuyển.

Người tu hành trung niên đã sa ngã,

Bắt đầu tải nền mà không có thùy.

Giang sơn tử khí hy sinh,

Hiền thánh phụng tự nhiên hô diệc!

Nguyện trục dài biển Đông qua,

Những chú giun trắng lãng mạn nhất thế giới.

Dịch thơ:

Là con trai chắc là lạ trên đời,

Hãy để vũ trụ tự vận động.

Trong khoảng một trăm năm cần tôi,

Rốt cuộc vĩnh viễn không có ai?

Non sông đã chết, sống càng nhục,

Thánh nhân đâu, học hoài!

Muốn vượt biển Đông theo gió,

Tất cả những con sóng bạc gửi ra biển.

Với giọng hát thiết tha, xúc động, Chia tay khi ra nước ngoài khắc họa vẻ đẹp lãng mạn hào hùng của chí sĩ cách mạng Phan Bội Châu với những tư tưởng mới mẻ, táo bạo, hừng hực nhiệt huyết và khát vọng cháy bỏng trong cuộc ra đi tìm đường cứu nước.

Bài thơ mở đầu bằng sự khẳng định chí làm trai:

Là con trai chắc là lạ trên đời,

Hãy để vũ trụ tự vận động.

câu thơ Trung Quốc: nam sinh yếu ớt . Hai chữ hi có nghĩa là hiếm, lạ, khác thường nên được hiểu là những từ nói lên sự cao cả, to lớn, nguy nga của công việc mà người đàn ông phải gánh vác. Đây cũng chính là lý tưởng sống của các nhà Nho trong thời kỳ phong kiến.

Trước Phan Bội Châu, nhiều người đã nhắc đến chi nam trong văn thơ. Phạm Ngũ Lão thời Trần từng trăn trở:

Một tên đàn ông vẫn còn trong nợ,

Xấu hổ khi nghe câu chuyện của Wuhou

(Xưng)

trong bài Làm bài kiểm tra tự hướng dẫn Nguyễn Công Trứ khẳng định:

Đã biết trên trời dưới đất,

Việc gì phải có danh với sông núi

và nhấn mạnh:

Chi là nam, bắc, tây và đông

Cho con sức vùng vẫy trong bốn bể

(tinh thần anh hùng)

Người con của Phan Bội Châu đã thuyết phục thế hệ trẻ lúc bấy giờ ở sự táo bạo, quyết liệt và cảm hứng lãng mạn nồng nàn. Đối với anh, làm con trai nghĩa là làm những điều kỳ lạ, làm những điều phi thường. Câu thơ đầu khẳng định điều đó. Câu thơ thứ hai mang ngữ điệu cảm thán bổ sung cho ý nghĩa của câu thứ nhất: Kẻ làm người thì phải tham xoay chuyển thế thời, thay đổi thời thế chứ không thể chỉ ngồi nhìn thời thế thay đổi mà yên ổn. bình thường, chấp nhận mình là người ngoài cuộc.

Thực chất đây là sự tiếp nối khát vọng của nhân vật trữ tình trong bài ca dao chơi xuân :

Giang sơn còn vẽ mặt người,

Thời đại của cuộc sống phải xoay chuyển theo thời đại .

Chân dung nhân vật trữ tình trong bài Chia tay khi ra nước ngoài Nó hiện lên khá rõ trong hai câu. Đó là người có tầm vóc vạn năng, tự ý thức mình phải gánh vác trọng trách gánh vác trọng trách lớn. Con người đó dám đối mặt với vũ trụ và vũ trụ để khẳng định mình. Người con rể cụ Phan Bội Châu đã vượt ra khỏi giấc mộng danh lợi thường gắn với tam quốc ngũ thường của Nho giáo để vươn tới một lý tưởng xã hội rộng lớn và cao đẹp hơn nhiều.

Cảm hứng và tư tưởng ấy một phần xuất phát từ lý tưởng quân tử, kính dân của các nhà Nho trước đây, nhưng nó tiến bộ hơn bởi tính chất cách mạng của nó. Lẽ thường, con tạo xoay vần là lẽ thường tình, nhưng Phan Bội Châu lại ôm khát vọng vũ trụ chủ động xoay vần, hơn là để nó tự xoay vần. Điều đó cũng có nghĩa là anh không chịu khuất phục trước số phận, trước hoàn cảnh. Lí tưởng tiến bộ ấy đã tạo nên cho nhân vật trữ tình trong bài thơ một tầm vóc vĩ đại, một tư thế kiêu hãnh, ngạo nghễ thách thức vũ trụ.

Hai câu thực thể hiện ý thức trách nhiệm cá nhân của nhà thơ, đồng thời là một nhà cách mạng tiên phong trước cuộc đời:

Trong khoảng một trăm năm cần tôi,

Rốt cuộc vĩnh viễn không có ai?

Câu thứ ba không chỉ khẳng định sự có mặt của nhân vật trữ tình trên đời mà còn hàm chứa một suy nghĩ: Sự có mặt của tôi không phải là một sự việc ngẫu nhiên, vô ích; Vì vậy, chúng ta phải làm điều gì đó lớn lao, có ích cho đời. Câu thứ tư có nghĩa là ngàn năm sau không còn người nối nghiệp tiền nhân. “Cái tôi công dân” của tác giả đã được đặt giữa giới hạn trăm năm của đời người và nghìn năm lịch sử. Việc khẳng định cần tôi không phải để hưởng thụ mà để góp phần làm nên phẩm giá đàn ông và lưu danh hậu thế.

Câu hỏi tu từ cũng là một cách khẳng định mạnh mẽ hơn khát vọng cống hiến và nhận thức đúng đắn của tác giả: Lịch sử là một dòng chảy không ngừng, đòi hỏi sự tham gia và gánh vác của các thế hệ nối tiếp. . Ở bốn câu thơ đầu, những hình ảnh kỳ vĩ của thiên nhiên như vũ trụ, trăm năm, vĩnh hằng đã thể hiện cảm hứng lãng mạn bay bổng, là nguồn sức mạnh niềm tin của nhân vật trữ tình.

Vào những năm đầu thế kỷ XX, sau những thất bại liên tiếp của các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp, một tâm lý bi quan, thất vọng đè nặng lên tâm hồn những người yêu nước Việt Nam. Tâm lý phòng thủ thường phổ biến. Đứng trước hoàn cảnh đó, bài thơ Chia tay khi ra nước ngoài có ý nghĩa như một hồi chuông thức tỉnh lòng yêu nước, cổ vũ nhân dân đứng lên chống giặc ngoại xâm.

Trong hai bài tùy bút, Phan Bội Châu đặt chí làm người trong bối cảnh hiện thực của lịch sử đương thời:

Non sông đã chết, sống càng nhục,

Hiền nhân vẫn học khắp nơi.

Nỗi tủi hổ - vinh dự mà tác giả đặt ra gắn liền với sự tồn vong của đất nước, dân tộc: Non sông chết, sống nhục hơn. Ý nghĩa của nó đồng nhất với quan điểm Thà chết vinh còn hơn sống nhục trong văn thơ yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu cuối thế kỉ XIX.

Câu thơ thứ năm thể hiện thái độ dứt khoát, thể hiện bằng ngôn ngữ hào hùng, trong sự tương phản giữa sự sống và cái chết. Đó chính là khí phách ngoan cường, bất khuất của những con người không chấp nhận cuộc sống nô lệ nhục nhã. Tư tưởng thơ mới mang tính chất cách mạng. Ở câu thứ sáu, Phan Bội Châu đã thẳng thắn bày tỏ quan điểm về thực trạng cay đắng về ảnh hưởng của nền giáo dục Nho học đối với tình hình đất nước lúc bấy giờ. Sách thánh hiền chẳng ích gì trong lúc nước mất nhà tan. Vì vậy, nếu bạn tiếp tục theo đuổi nó, nó sẽ chỉ là vô ích.

Dĩ nhiên, Phan Bội Châu không phủ nhận hoàn toàn học vấn Nho học của mình, nhưng tuyên bố như vậy là quá táo bạo đối với một người từng là môn đệ của Nho gia. Lòng dũng cảm và sự sáng suốt đó trước hết xuất phát từ lòng yêu nước nồng nàn và khát vọng cháy bỏng tìm ra con đường mới đưa đất nước thoát khỏi ách nô lệ khốn cùng. Phan Bội Châu cho rằng nhiệm vụ thiết thực trước mắt là cứu nước, cứu dân, đó là Duy tân, tức là học tập những tư tưởng cách mạng mới, tiến bộ.

Bài thơ không đơn thuần là bày tỏ ý nguyện mà thực sự là một hành trình của nhân vật trữ tình:

Muốn vượt biển Đông theo gió,

Tất cả những con sóng bạc gửi ra biển.

Những hình ảnh kỳ vĩ ở hai cực của vũ trụ: bể Đông, cánh gió, sóng bạc đầu. Vạn vật như hòa làm một với con người trong tư thế bay bổng.

Trong nguyên tác, hai câu 7 và 8 liên kết với nhau thành một bài thơ hay: Người đuổi gió lớn khắp biển Đông, cả vũ trụ bao la. Ngàn con sóng bạc cùng bay (Nhất Phi hữu tình lãng mạn). Tất cả tạo thành một bức tranh hoành tráng, trong đó con người là trung tâm, được chắp cánh bởi những khát vọng lớn lao, bay bổng trên thực tại đen tối khắc nghiệt, bồng bềnh giữa biển trời bao la. Bên dưới đôi cánh đại bàng ấy là vô vàn những con sóng bạc đầu tung bọt trắng xóa, tưởng như sẽ nâng đỡ con người bay thẳng đến chân trời mơ ước. Hình tượng sử thi này đã thắp lên niềm tin và hy vọng cho một thế hệ mới trong thời đại mới.

Thực ra, sự ra đi của Phan Bội Châu là một cuộc ra đi bí mật, chỉ đưa tiễn một số đồng chí thân thiết nhất. Dù phía trước chỉ là một vài tia sáng của ước mơ, nhưng những người đã ra đi tìm đường cứu nước vẫn háo hức và tràn đầy niềm tin.

Sức thuyết phục và sức hấp dẫn của bài thơ là ở ngọn lửa nhiệt tình đang bùng cháy trong tâm hồn nhân vật trữ tình. Đoạn thơ đã hiện lên hình ảnh người anh hùng trong buổi xuất ngoại với tư thế oai hùng, sánh ngang với vũ trụ. Người anh hùng ấy ý thức rất rõ về “cái tôi công dân” và luôn trăn trở, day dứt trước sự tồn vong của quốc gia, dân tộc.

bài thơ Chia tay khi ra nước ngoài được viết theo lối văn ước lệ và phóng đại, rất phù hợp với mục đích động viên, khích lệ. Giọng thơ vừa sâu lắng, dịu dàng, vừa sôi nổi, hào hùng, mang âm hưởng oai hùng. Nỗi đau, niềm lạc quan, nhiệt huyết hành động và tư tưởng cách mạng đã thổi sức sống vào từng câu, từng chữ, từng hình ảnh trong bài thơ. Âm hưởng hào hùng của bài thơ có sức lay động, thức tỉnh rất lớn đối với mọi người. Đây là bài thơ tiễn biệt nhưng cũng là lời kêu gọi, giục giã. Tầm vóc của bài thơ hoàn toàn tương xứng với tầm vóc của một con người được cả dân tộc ngưỡng mộ và tin tưởng. Trong công việc Truyện cười hay nhất là Varen và Phan Bội Châu (1925) tác giả Nguyễn Ái Quốc tôn thờ Phan Bội Châu như một vị anh hùng, một vị thần, người đã hy sinh vì nền độc lập được hai mươi triệu đồng bào trong vòng nô lệ tôn thờ.

Đây là một bài văn mẫu Phân tích bài thơ Tiễn biệt người ra nước ngoài điểm cao để bạn tham khảo. Ngoài ra, những bài văn phân tích hay về bài Chia tay khi ra nước ngoài  dưới đây sẽ giúp các bạn có thêm những ý tưởng phân tích hay cho bài viết của mình.

>>> Mời các bạn tham khảo  nội dung bài soạn Những lưu ý khi xuất ngoại (Phan Bội Châu) để hiểu rõ nhất và chi tiết nhất những giá trị nội dung và nghệ thuật mà tác phẩm mang lại cho người đọc.

IV. Top 5 bài văn hay Phân tích nội dung bài thơ “Tiễn biệt người ra nước ngoài” (Phan Bội Châu)

Dưới đây THPT Sóc Trăng đã tổng hợp danh sách top 5 bài văn phân tích hay và đầy ý tưởng mà các em có thể tham khảo trước khi làm bài, cùng tham khảo ngay nhé!

1. Phân tích Lời chia tay khi xuất ngoại bài mẫu 1

Phan Bội Châu (1867 –   1940) là mỹ danh một thời. Có thể nói, trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của dân tộc Việt Nam, trước Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phan Bội Châu là linh hồn của các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trong 25 năm đầu thế kỷ XX. Tên tuổi của ông gắn liền với các tổ chức yêu nước như Duy Tân hội, phong trào Đông Du, Việt Nam Quang Phục hội... Tên tuổi Phan Bội Châu còn gắn liền với hàng trăm bài thơ, hàng chục cuốn sách, một số bài văn tế. kinh tế và một số vở kịch chứa đầy tinh thần yêu nước: Bài thơ dậy sóng của Phan Bội Châu (Tố Hữu).

Năm 1900, Phan Bội Châu đoạt giải nhất kỳ thi Hương trường Nghệ. Năm 1904, ông thành lập Duy Tân hội, một tổ chức yêu nước. Năm 1905, ông khởi xướng phong trào Đông Du. Trước khi lên đường sang Đông Du, sang Trung Quốc, Nhật Bản cầu viện nước ngoài với nhiều hoài bão, ông để lại cho đồng đội bài thơ Vĩnh biệt Xuất hành . Có thể nói, bài thơ này như một mốc son chói lọi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và thơ văn Phan Bội Châu.

Vĩnh biệt Xuất hành Được viết bằng chữ Hán, theo thể thất ngôn, bát cú Đường luật, là một bài tuyệt cú thể hiện tư thế, khí thế quyết tâm và những tư tưởng mới cao đẹp của chí sĩ Phan Bội Châu trong buổi đầu ra đi cứu nước. . .

Hai câu nói về mục đích, về lẽ sống cao cả:

Sinh ra là một người đàn ông yếu đuối,

Thuyết phục người khôn ngoan để di chuyển trên chính nó.

Tự hào là đàn ông, bạn phải sống để sống, muốn làm những điều kỳ lạ. Nói rộng ra là không thể sống tầm thường, không thể sống thụ động để cho trời đất ( càn khôn vũ trụ ) tự vận động một cách vô vị, nhạt nhẽo. Câu thơ thể hiện một tư thế, phong thái rất đẹp về đấng nam nhi, tự tin vào đức và tài của mình, muốn làm nên nghiệp lớn, xoay chuyển thiên hạ, như lời Bác đã nói trong một bài thơ. khác:

Vươn tay ôm lấy đối tác kinh tế,

Há miệng cười cho hả hận.

Gắn câu thơ với sự nghiệp cách mạng vô cùng sôi nổi của Phan Bội Châu, ta cảm nhận được khí phách hào hùng của bậc chí sĩ. Kẻ muốn làm chuyện lạ đời, từng đốt lửa nghĩ như câu ca xưa:

Mỗi thánh địa bất tử của kiến ​​trúc trắng,

Thiết lập thị trường tối của văn học.

(Bữa cơm kẻ muốn ghi sử sách,

Nghĩa đen là hùng hồn nhất trong văn học)

( Tùy viên kiểm tra giọng nói – Viên Mai)

Người đàn ông muốn làm nên điều kỳ diệu trên đời này có một dòng máu nóng sôi sục: Tôi được trời phú cho một dòng máu nóng không phải ít, khi còn nhỏ tôi đã đọc sách của cha tôi, mỗi khi đến những nơi nói về con người. Năm xưa phải chết tu Đạo, lệ rơi ướt cả trang giấy… (Địa Ngục Trung Ương).

Xem thêm: đại học ngoại ngữ tin học tphcm

Phần thi pháp hiện thực được mở rộng, tác giả khẳng định vai trò của mình trong xã hội và trong lịch sử:

Người tu hành trung niên đã sa ngã,

Bắt đầu tải cánh sau không thùy.

Ngã là tôi; Tu thân tức là có mình trong cuộc sống trăm năm (trăm năm). Câu thơ khẳng khái thể hiện niềm tự hào lớn lao của kẻ sĩ yêu nước trước cảnh nước mất nhà tan. Trời sau ngàn năm sau, lịch sử đất nước, dân tộc, há chẳng còn ai (để lại tên)? Hai câu 3, 4 đối nhau, lấy cái tiêu cực để tô đậm cái tích cực. Đó là một ý thơ sâu sắc thể hiện vai trò của cá nhân trong lịch sử: sẵn sàng gánh vác mọi trọng trách mà lịch sử giao phó. Ý tưởng tuyệt đẹp này là sự kế thừa tư tưởng vĩ đại của các vĩ nhân trong lịch sử:

Cho dù trăm xác này phơi khô trên cỏ, nghìn xác này bọc trong da ngựa, ta cũng bằng lòng

(Trần Quốc Tuấn).

Bản thân cuộc sống con người là bất tử,

Lưu tâm đàn tỏa hàn thanh

(Văn Thiên Tường)

Lấy tuổi đời hữu hạn của một đời người trước sự vô tận của lịch sử dân tộc, Phan Bội Châu đã tạo nên một giọng thơ trầm hùng, hào hùng thể hiện quyết tâm và khát vọng trong buổi ra đi. Vì vậy, trên con đường cách mạng giải phóng dân tộc, trải qua muôn vàn thử thách, hiểm nguy, Người vẫn bất khuất, lạc quan:

Thân còn đó mà sự nghiệp

Biết bao hiểm nguy đáng sợ!

( Cảm giác trong nhà tù Quảng Đông )

Bài văn, tác giả nói về sự sống và cái chết, nói về con đường danh lợi. Đây là một ý tưởng rất mới khi chúng ta nhìn vào lịch sử dân tộc trong những năm dài tăm tối dưới thời Pháp thuộc. Non sông đã chết, đã bị ngoại bang xâm lăng, chà đạp thì thân phận dân ta chỉ còn là kiếp trâu ngựa, thậm chí sống ô nhục. Trong tình hình như vậy, có nấu nướng lịch sử cũng chẳng ích gì, tập trung vào con đường của lịch sử cũng là vô nghĩa. Sách của Thánh hiền có ích gì trong việc cứu nước, cứu nhà?

Dòng sông đã chết, sống trong tủi nhục,

Hiền nhân vẫn học hỏi khắp nơi

Phan Bội Châu đã đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Anh nói với tất cả sự nhiệt tình và chân thành. Ông nhắn nhủ mọi người hãy dứt bỏ học cao học, đừng chìm đắm trong hư ảo mà hãy hăng say tìm kiếm một lý tưởng cao cả. TRONG Bài hát năm mới cho giới trẻ Viết vào dịp Tết năm 1927, Người tha thiết kêu gọi thanh niên:

Ai có lòng thì từ nay về sau cố gắng nhé

Gấp bút nghiên, tu chí khí

Đừng tham, đừng tham, đừng tham

Sử dụng bộ não của bạn để phá vỡ ngọn lửa

Đổ dòng máu nóng rửa sạch kiếp nô lệ…

Làm thế nào để sống một cuộc sống tươi đẹp. Sống như vậy mới mong làm được những điều kỳ lạ trên đời, để rồi tự khẳng định: Khoảng trăm năm nữa, anh cần em.

Đoạn kết là kết tinh của một hồn thơ lãng mạn:

Trục nguyên thủy của Trường Biển Đông,

Người lãng mạn nhất trong tất cả các nhà hảo tâm

Thơ Phan Bội Châu là thơ tuyên truyền, cổ vũ tinh thần yêu nước, kêu gọi căm thù giặc. Văn thơ Phan Bội Châu trở thành những bài ca yêu nước bởi nó thấm đượm cảm xúc, sục sôi nhiệt huyết, có nhiều hình ảnh đẹp nói về cảm hứng yêu nước, lí tưởng anh hùng. Hai câu này là một ví dụ: Trường Phong – ngọn gió dài, Đốt Bạch Lang – ngàn lớp sóng bạc, là hai hình ảnh tráng lệ. Khí phách của người chiến sĩ cách mạng được thể hiện qua các vị ngữ: nguyện trục (mong cùng đuổi theo) và nhất kỳ phi (cùng bay lên).

Không gian bao la mà thư sinh mong vượt qua chính là Đông Hải. Nếu như hai thanh cuối câu 7 (Đông Hải qua) làm cho giọng điệu căng, nén thì hai thanh bằng ở cuối câu 8 (Nhất Kỳ Phi) làm cho giọng điệu bay bổng, bay bổng. Âm hưởng trầm bổng ấy cũng góp phần thể hiện quyết tâm cứu nước mạnh mẽ của Phan Bội Châu. Ở đây nội lực, ý chí chiến đấu và bản lĩnh của người lính có sự hòa hợp, gắn bó và thống nhất. Sự nghiệp cách mạng của Phan Bội Châu đã cho hậu thế biết đến và khâm phục những điều mà người đi trước đã nói trong hai câu kết.

Vĩnh biệt Xuất hành Đó là một bài thơ đầy đam mê. Bài thơ là tiếng nói đầy tự hào của một chí sĩ yêu nước, thương dân, dám xả thân vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Giọng thơ trầm hùng, hào hùng, nhất là ở hai câu cuối. Đoạn thơ thể hiện sâu sắc nhất cảm hứng yêu nước và lí tưởng anh hùng của chí sĩ Phan Bội Châu.

2. Phân tích Lời chia tay khi xuất ngoại đăng mẫu số 2

Vào những năm đầu thế kỷ XX, trong khi nước Việt Nam mất chủ quyền, phong trào Cần Vương thất bại thì tư tưởng dân chủ tư sản đã thổi một luồng gió mới cho thanh niên yêu nước. Họ tìm thấy lý tưởng mới và ra đi với một niềm tin mãnh liệt vào dân tộc. Một trong những nhà cách mạng đã có cái chết anh dũng đó là Phan Bội Châu. Trước khi lên đường sang Nhật, ông đã viết bài thơ " Chia tay khi ra nước ngoài ' như một lời tạm biệt. Đây là bài thơ đặc sắc trong kho tàng thơ văn của Phan Bội Châu.

“Là con trai hẳn là lạ trên đời này

Hãy để vũ trụ tự vận động.”

Hai câu đầu mở ra một quan niệm mới về chí và vị trí của con người trong xã hội. Là đàn ông thì phải sống phi thường, vẻ vang, dám mưu sự nghiệp, dám xoay chuyển “thế thiên hạ”, dám chủ động đối mặt với thử thách chứ không phải sống thụ động, nhàm chán và tầm thường. Con người phải khẳng định được vị trí của mình trong cuộc sống, không được đầu hàng số phận. Đúng như Nguyễn Công Trứ đã từng nói: “ Là người đứng giữa trời đất / Nên tên gì cùng sông núi ". Như vậy, Phan Bội Châu đã bộc lộ một tư tưởng và lẽ sống cao cả, tiến bộ. Từ đó, tác giả nhận thức được:

“Trong khoảng một trăm năm tôi cần bạn

Rốt cuộc vĩnh viễn không có ai?"

Quan niệm mới đã hình thành ý thức cá nhân gắn với cái “tôi” đầy trách nhiệm trước thời đại. Nhà thơ khẳng định sứ mệnh cao cả và thiêng liêng trong cuộc đời, ý thức sâu sắc và trách nhiệm lớn lao của mình. Không chỉ sống cuộc đời buồn tẻ, lặng lẽ mà phải sống cống hiến, kiêu hãnh, hiên ngang để lưu danh hậu thế. Câu phủ định thứ tư là để khẳng định một cách dứt khoát hơn về lẽ sống của mình. Những hình ảnh thơ rộng lớn, hào hùng như “Chân Khôn”, “trăm năm”, “mãi mãi” đã góp phần làm nổi bật khát vọng sống và cống hiến của tác giả.

Không chỉ ý thức được trách nhiệm của mình, Phan Bội Châu còn bộc lộ thái độ kiên quyết đi trước thời đại:

“Sông đã chết, sống càng nhục

Hiền nhân đâu, còn học”

Bằng tình yêu nước cháy bỏng và con mắt tinh tế của mình, Phan Bội Châu đã nhận thức rõ hơn về tình hình đất nước lúc bấy giờ. Sự vinh - nhục được thể hiện như một nỗi đau của một người trước cảnh nước mất, nhà tan. Cũng như các nhà cách mạng khác, Người cũng trăn trở về con đường tương lai của dân tộc, con đường cứu nước. Ông đã tỉnh táo nhận ra một thực tế: Đất nước đã mất chủ quyền, “hiền nhân” cũng chẳng làm được gì.

Ở câu này, bản dịch thơ chưa sát với nguyên tác cho lắm. Nguyên bản thể hiện thái độ dứt khoát, mạnh mẽ của Phan Bội Châu: “Thánh nhân vắng mặt thì đọc sách cũng ngu!”. Không phải ông hoàn toàn mất niềm tin vào nền giáo dục Nho giáo mà ông đã khôn ngoan nhận ra những hạn chế của nó. Điều đó một phần nhờ ảnh hưởng của hệ tư tưởng dân chủ tư sản truyền vào nước ta. Trước tình hình đó, Phan Bội Châu đã nêu lên những khát vọng mãnh liệt và quyết liệt:

“Muốn vượt biển Đông theo gió

Tất cả những con sóng bạc gửi ra biển"

Hai câu thơ cuối đã vẽ nên tư thế hào hoa, anh dũng và không kém phần lãng mạn của người ra đi tìm đường cứu nước. Những hình ảnh thơ kì vĩ, tráng lệ liên tiếp xuất hiện: “hồ đông”, “gió lộng”, “sóng bạc”,... đã góp phần tô đẹp thêm tư thế và khát vọng của con người trên đường ra đi. Tuy nhiên, bản dịch thơ chưa làm nổi bật hết vẻ đẹp của bức tranh này. “Tạm biệt biển cả” chỉ là một cuộc chia tay bình thường như bao cuộc chia tay khác, “Muôn ngàn con sóng bạc tung bay” tái hiện đầy đủ, trọn vẹn một bức tranh hoành tráng với hình ảnh trung tâm là con người. , bao quanh là vũ trụ bao la chắp cánh cho ước mơ của con người.

Thực chất đây là một cuộc ra đi khá thầm lặng và bí mật nhưng qua bài thơ, tác giả đã thể hiện một tư thế rất đỗi tự hào, tin tưởng vào tương lai của đất nước. Nó được coi là một hình tượng đẹp trong văn học, một hình tượng vừa mang tính sử thi, vừa xen lẫn cảm hứng lãng mạn.

Bài thơ được coi là một trong những bài thơ có sức quyến rũ mạnh mẽ nhất. Không chỉ với những ý tưởng, quan niệm mới mà còn mang những nét nghệ thuật độc đáo. Bài thơ được viết theo thể thơ bảy chữ, phù hợp với tài “ăn nói” của Phan Bội Châu. Hình ảnh thơ hùng vĩ, lớn lao góp phần thể hiện trọn vẹn khát vọng hành động và tinh thần trách nhiệm của tác giả. Giọng thơ linh hoạt, sôi nổi, mạnh mẽ.

Như vậy, toàn bài thơ đã xây dựng hình tượng người anh hùng cách mạng mang vẻ đẹp hào hùng, lãng mạn. Bằng tâm huyết và lòng yêu nước sâu sắc, Phan Bội Châu không chỉ trở thành nhà cách mạng mà còn là nhà văn lớn của dân tộc, đáng được hậu thế kính trọng.

3. Phân tích Lời chia tay khi xuất ngoại bài mẫu 3

Phan Bội Châu được biết đến là một chí sĩ yêu nước, người lãnh đạo nhiều phong trào yêu nước. Dù con đường Phan Bội Châu đang đi còn nhiều chông gai và cuối cùng phải chịu thất bại, nhưng cụ vẫn là tấm gương sáng cho muôn đời sau. Không chỉ là một học giả, Phan Bội Châu còn là một nghệ sĩ với nhiều tác phẩm đẹp. Năm 1905, Duy Tân hội chủ trương phong trào Đông Du, đưa thanh niên ưu tú sang Nhật Bản. Điều này vừa nhằm chuẩn bị lực lượng nòng cốt cho cách mạng, vừa tranh thủ sự giúp đỡ của các thế lực bên ngoài. Trước ngày ra đi, Phan Bội Châu viết bài thơ Chia tay khi ra nước ngoài để bày tỏ quan điểm, tình cảm của mình với đồng chí, đồng đội.

trong bài thơ Xuất hành khi ra đi , Phan Bội Châu đã sử dụng ngôn ngữ thơ giàu sức lay động. Người anh hùng cách mạng hiện lên trong thơ ông mang vẻ đẹp vừa lãng mạn vừa hào hùng. Trong cuộc ra đi tìm đường cứu nước, những tư tưởng mới mẻ, táo bạo của nhà báo cách mạng đã được thể hiện một cách cháy bỏng. Mở đầu bài thơ, Phan Bội Châu đã khẳng định chí làm trai giữa trời đất:

Là con trai chắc là lạ trên đời

Hãy để vũ trụ tự vận động

Xưa Nguyễn Công Trứ cũng từng nói về chí làm trai rằng, đã làm trai trong trời đất thì phải có danh với sông núi. Bây giờ, Phan Bội Châu cũng nói về đạo làm người, nhưng viết theo một cách khác. Đó là làm con trai, làm những điều kỳ lạ trên đời. Cái lạ ở đây có thể hiểu là đứng lên chống lại kẻ thù. Làm trai là phải chủ động chứ đừng thụ động để cho số mệnh của đời mình thay đổi cho trời đất. Đó là lời thuyết phục thế hệ trẻ mạnh dạn hơn, quyết đoán hơn. Người con của cụ Phan Bội Châu đã vượt qua được ước vọng lâu đời gắn liền với Tam giáo, Ngũ thường của Nho giáo. Chí là người con của Phan Bội Châu, vươn tới lí tưởng xã hội rộng lớn, cao cả.

Một phần cảm hứng ấy có lẽ cũng xuất phát từ lý tưởng trung quân, hiếu dân của Nho giáo ngày xưa, nhưng vì mang tính chất cách mạng nên tư tưởng đã tiến bộ hơn. Đúng như lẽ tự nhiên, tạo hóa xoay vần là lẽ tự nhiên của con người, nhưng Phan Bội Châu không chấp nhận điều đó. Anh muốn xoay chuyển cả vũ trụ chứ không để nó tự xoay vần. Điều này có nghĩa là Phan Bội Châu không chấp nhận khuất phục số phận, hoàn cảnh.

Sang hai câu thực, nhà thơ ý thức rõ trách nhiệm của mình trước lịch sử và vận mệnh đất nước:

Trong khoảng một trăm năm tôi cần bạn

Sau này mãi mãi không ai

Không chỉ đơn thuần khẳng định sự có mặt của nhân vật trữ tình trên đời mà câu thơ thứ ba còn ẩn chứa một suy nghĩ rằng sự có mặt của tác giả trên đời không phải là ngẫu nhiên. Chính từ ý thức đó, nhà thơ tự thấy mình cần phải làm những việc có ích vì mai sau chắc chắn sẽ có người đi tiếp con đường mình đã đi.

Ý chí làm người không chỉ là một tư tưởng lý tưởng trong lòng tác giả, mà nó được tác giả đặt trong hoàn cảnh thực tế của lịch sử:

Dòng sông đã chết, sống càng nhục

Hiền nhân vẫn học khắp nơi

Ở mỗi thời đại, có lẽ chỉ có nam nhân là khác nhau. Nếu trong thời bình, chí làm trai mới là thi đỗ, làm quan thì trong thời chiến, học hành, theo đuổi hiền nhân là không còn đúng nữa. Nước nhà nguy biến, rơi vào tay giặc thì học làm gì? Nếu không sông thì sống chỉ thêm tủi nhục. Đó là lý tưởng của con người hiện đại. Đối với Phan Bội Châu, nhiệm vụ lúc này là đánh thắng quân thù. Hai câu thơ cuối đã thể hiện khát vọng vươn ra biển lớn của nhà thơ:

Muốn vượt biển Đông cùng gió

Tất cả những con sóng bạc gửi ra biển

Hình ảnh trong hai câu thơ mang tính bao quát, nó làm cho ý chí của tác giả lớn hơn, hào hùng hơn. Mọi thứ dường như hòa quyện và thăng hoa cùng nhau.

bài thơ Chia tay khi ra nước ngoài đã có sức lay động lòng người, khích lệ tinh thần các tướng lĩnh lúc bấy giờ. Đây xứng đáng là một kiệt tác mà không chỉ thế hệ trước mà cả thế hệ chúng ta và thế hệ mai sau đều có thể rút ra bài học kinh nghiệm cho mình.

4. Phân tích Lời chia tay khi xuất ngoại đăng mô hình số 4

Phan Bội Châu được coi là một trong những nhà văn mở đầu cho dòng văn học trữ tình - chính luận. Có thể thấy trong thơ Phan Bội Châu luôn thể hiện một bầu không khí sôi nổi, thơ ông luôn sục sôi với lí tưởng độc tôn của một người. Đó là giành lại độc lập tự do cho dân tộc. Nhắc đến Phan Bội Châu, người ta không quên tác Chia tay khi ra nước ngoài .

Hoàn cảnh ra đời bài thơ” Chia tay khi ra nước ngoài “Đó là năm 1904, nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu và các đồng chí của mình thành lập Duy Tân hội. Sau đó, một năm sau, 1905, lúc này hội đã vận động phong trào Đông Du để những thanh niên ưu tú nhất sang Nhật. học tập để vừa học vừa chuẩn bị lực lượng nòng cốt giành chính quyền, cách mạng nước ta lúc này cũng là tranh thủ sự giúp đỡ của các thế lực bên ngoài. Chia tay khi ra nước ngoài " để nói lời tạm biệt với bạn bè.

Đọc tác phẩm, người đọc có thể nhận thấy bố cục chứa đựng một giọng thơ sôi nổi, giàu sức sống. Nhiều hơn thế Chia tay khi ra nước ngoài được sáng tác như thể hiện tinh thần chung của thời đại. Và chính tinh thần ấy cũng đã thổi vào không khí cách mạng đầu thế kỷ XX của đất nước một luồng sinh khí mới. Chính điều này đã có một ý nghĩa rất lớn trong thời cuộc của đất nước lúc bấy giờ:

Là con trai chắc là lạ trên đời,

Hãy để vũ trụ tự vận động.

Không thể phủ nhận hai câu thơ trên thể hiện lí tưởng nhân văn cao đẹp và tác giả muốn nhấn mạnh ở đây đó là trang nam nhi. Con người chúng ta còn phải nắm vững những bước đi lịch sử của mỗi người cũng như tham gia tích cực vào sự vận động của thế giới. Từ xưa đến nay, “Đạo làm trai” luôn được coi trọng, đó cũng là sự khẳng định ý chí của giới trẻ nói chung. Cũng chính từ chân dung nhân vật trữ tình trong bài Chia tay khi ra nước ngoài Nó dường như khá rõ ràng qua hai câu đầu tiên.

Phan Bội Châu cũng đã xây dựng nên một nhân vật trữ tình luôn ý thức trách nhiệm của bản thân để có thể gánh vác trọng trách lớn lao đó. Con người mà Phan Bội Châu xây dựng mà tôi muốn nhắc đến là phải đối diện với vũ trụ cũng như vũ trụ bao la để có thể khẳng định:

Trong khoảng một trăm năm cần tôi,

Rốt cuộc vĩnh viễn không có ai?

Đây cũng là sự khẳng định một cách dứt khoát và dũng cảm về sức mạnh của con người trước vũ trụ của tự nhiên. Dường như chính cái nghĩa “tôi” ở đây cũng đã được tác giả tận dụng triệt để khi tạo cho nhân vật một thế đứng thật đặc biệt. Ở đây không phải là cái “tôi” bi quan hay cực đoan như ở một số nhà thơ mới xuất hiện sau này mà nó còn là sự khẳng định trách nhiệm của mỗi người và đặc biệt là một trang nam nhi.

Câu thơ như một lời thôi thúc mạnh mẽ, như một lời thách thức tinh thần chiến đấu của con người. Qua đó, hình ảnh một vị lãnh tụ đầy nhiệt huyết - Phan Bội Hậu cũng có ý thức kêu gọi mọi người chung sức chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Sau khi khẳng định bản lĩnh đàn ông, ông cũng nói về trách nhiệm của mỗi người với nhân cách cao quý của nhà Nho:

Dòng sông đã chết, sống trong tủi nhục,

Hiền nhân đâu còn học

Chúng tôi đọc đến hai bài văn tiếp tục được viết theo thể đối ngẫu thực sự quen thuộc của thơ cổ điển. Trong thể thơ còn khẳng định khí phách, quyết tâm của người lính. Thực sự có thể nói, ngay trong thời điểm đó của đất nước, việc ra đi tìm đường cứu nước là lý tưởng đúng đắn. Vì khi dân tộc mất tự do, bị xâm lược thì ra đi tìm đường cứu nước là lý tưởng của thời đại. Câu thơ không có ý chê bai việc đọc sách hiền triết, mà có ý khuyên người ta nên có nhận định đúng đắn về đạo hiền ở đời, đừng chỉ đọc sách hiền triết mà bỏ ngoài tai tất cả.

Không những thế, câu thơ dường như còn nói lên nỗi xót xa của nhà thơ khi đất nước bị thực dân Pháp xâm lược. Thực dân Pháp đem văn hóa phương Tây vào nước ta theo nhiều trào lưu mới cũng là thứ rác rưởi cần bài trừ. Tất cả những điều đó cũng đã gây ra sự xáo trộn khủng khiếp về luân lý cũng như đạo đức xã hội.

Muốn vượt biển đông bằng cánh gió,

Tất cả những con sóng bạc gửi ra biển.

Hai câu thơ trên với tinh thần ra đi phải luôn dũng cảm đầy quyết tâm đồng thời cũng tràn đầy sức mạnh. Rất dễ nhận ra câu cuối của bài thơ " Chia tay khi ra nước ngoài ” dường như đã khẳng định nhiệt huyết sục sôi của người ra đi. Người ra đi luôn hướng về (Nhật Bản), người ra đi cũng với quyết tâm rất cao.

Bản lĩnh của ý chí làm người được thể hiện rõ nét nhất là “nhất tỳ nhì thiếp”. Quả thật, lời thơ hào hùng, lãng mạn dường như đã thể hiện tư thế ra đi đầy u uất của con người trong thời đại mới. Hơn hết, người ra đi đã đặt biết bao hy vọng vào con đường mình đã chọn.

" Chia tay khi ra nước ngoài "Đó còn là bản hùng ca của một thời đại đau thương nhưng cũng rất đỗi tự hào của dân tộc Việt Nam. Đồng thời cũng là tấm gương sáng để thế hệ mai sau soi vào. Hơn hết, nó khẳng định tình yêu đất nước tha thiết, thôi thúc các tinh thần đấu tranh bảo vệ non sông đất nước.

5. Phân tích bài Giã biệt khi xuất dương bài mẫu 5

Phan Bội Châu được coi là người đầu tiên trong lịch sử Việt Nam có ý thức dùng văn chương để vận động, tuyên truyền cách mạng. Ông cũng là người khởi xướng dòng văn trữ tình chính trị. Trong đó, bài thơ “ Chia tay khi ra nước ngoài "là một tác phẩm tiêu biểu.

Đây là bài thơ viết trong bữa cơm Tết mà Phan Bội Châu tổ chức tại tư gia để chia tay bạn bè, đồng chí trước khi lên đường sang Nhật Bản năm 1905.” Chia tay khi ra nước ngoài đã thể hiện tư tưởng lớn, mới mẻ và đầy trách nhiệm của tác giả, thể hiện sự háo hức và quyết tâm trong lần đầu vượt biển ra nước ngoài để “âm mưu phục quốc”.

Chí làm trai đã được đề cập trong văn học từ xa xưa, nhưng đặc biệt được nhấn mạnh trong thời kỳ phong kiến, khi Nho giáo phát triển mạnh mẽ. Một người đàn ông phải có danh tiếng và sự nghiệp thì mới xứng đáng là trai. Không phải vậy, trong bài thơ “ Xưng “, Phạm Ngũ Lão viết:

“Danh tiếng của một người đàn ông vẫn còn nợ

Xấu hổ khi nghe câu chuyện của Wuhou "

Hay Nguyễn Công Trứ cũng viết:

“Chi là nam, nữ, bắc, tây, đông

Xin ban cho con sức mạnh để vùng vẫy trong bốn bể."

Muốn trở thành người được mọi người công nhận thì phải biết phấn đấu, lập công, lập danh, có sức “vùng vẫy” khắp bốn bể để chứng tỏ tài năng, bản lĩnh của mình. Kế thừa tư tưởng đó của Nho giáo, Phan Bội Châu đã đưa ra quan điểm về chí làm người như một tuyên ngôn hùng hồn:

"Nam giới sinh học yếu đuối và tò mò,

Vũ trụ hứa hẹn sẽ tự di chuyển".

(Là con trai chắc là lạ trên đời này

Hãy để vũ trụ tự vận động)

Đầu tiên, anh cho biết, đã là con trai thì phải “lạ”, nghĩa là sống khác mọi người, không giống ai để tạo sự khác biệt. “Lạ” còn có nghĩa là điều phi thường, vẻ vang, xoay chuyển cả thế giới. Đó là lối sống tích cực, không chùn bước, nản lòng, để hoàn cảnh chi phối, nhưng có dũng khí để chế ngự hoàn cảnh. Một nhân vật trữ tình dám đối diện với vũ trụ, trời đất, vạn vật để khẳng định mình và phấn đấu đạt được ước mơ công danh.

Phan Bội Châu ôm khát vọng thay đổi vũ trụ, không để vũ trụ tự vận động. Anh không đầu hàng, khuất phục trước số phận, hoàn cảnh mà dùng chính khả năng của mình để thay đổi hoàn cảnh. Có thể nói, đứa con trai độc nhất của ông là con trai của một nam tử kiêu ngạo trong thiên hạ, dám ngạo nghễ ngang trời. Một con người có tầm vóc vĩ đại, tầm vóc của vũ trụ luôn mang trong mình ý thức và trách nhiệm của cá nhân đi trước thời đại:

"Một trăm năm của một người tu luyện chân chính và tự cho mình là trung tâm,

Tung cánh sau không thuỳ”

(Trong khoảng một trăm năm tôi cần bạn

Sau tất cả sự vĩnh cửu, không có ai?)

Trong cuộc đời trăm năm hữu hạn của mình, Phan Bội Châu muốn cống hiến sức mình cho đất nước, lập những công lao to lớn phi thường để xứng đáng là người được thiên niên kỷ ghi nhớ. Tác giả đã tự khẳng định, đây là cái tôi có trách nhiệm và tích cực chứ không phải cái tôi ích kỷ chỉ biết quan tâm đến lợi ích cá nhân.

Trong hai câu thực có sự tương phản hài hòa giữa cái vô tận của thời gian và cái hữu hạn của đời người, Phan Bội Châu lấy cái phủ định làm nền, làm nổi bật điều mà ông khẳng định. Anh muốn làm được những điều phi thường, lưu danh sử sách để không hổ thẹn với bậc trượng phu mà anh đã lấy làm lý tưởng sống. Cống hiến cho cuộc đời vừa là nghĩa vụ, vừa là trách nhiệm của người đàn ông.

Trong giới hạn trăm năm đó, một người đàn ông phải thực hiện ý chí làm trai và cũng trong một nghìn năm tới phải để lại danh tiếng cho thiên hạ. Hai câu thơ như một lời thôi thúc khơi dậy tinh thần xả thân vì đại nghĩa của mọi người, đặc biệt là các sĩ phu thanh niên phải cống hiến sức mình cứu nước, tìm hướng đi mới cho dân tộc. Gắn với tình hình thực tế của đất nước, Phan Bội Châu đã nêu lên trách nhiệm của một người đàn ông đối với vận mệnh của quốc gia:

“Giang sơn tử hi sinh phóng túng,

Hiền thánh tụng diệc kinh”!

(Dòng sông đã chết, sống trong tủi hổ,

Hiền nhân đâu, còn đang học!)

Đất nước bị xâm lăng, sông núi không còn, ta dù có sống cũng chỉ mang tủi nhục mà thôi. Sách vở và những người có học cũng trở nên vô nghĩa khi chủ quyền đất nước bị xâm phạm. Nhiệm vụ giải phóng dân tộc được Người đặt lên hàng đầu vì Người ý thức được thời thế. Sách vở cũng chẳng nghĩa lý gì khi nước mất nhà tan. Công việc quan trọng và thiết thực nhất lúc bấy giờ là tìm ra con đường, hướng đi cho đất nước thoát khỏi ách xâm lược, bóc lột của thực dân Pháp.

Phan Bội Châu là một nhà yêu nước và ông cũng mong phong trào Đông Du do mình lãnh đạo sẽ gặt hái được nhiều ích lợi cho đất nước. Bên cạnh đó, hai bài văn tế còn có ý nghĩa thức tỉnh những người yêu nước. Đây cũng là lúc để họ xoay chuyển thế giới, xoay chuyển tình thế và tình thế của dân tộc. Hai câu kết bài thơ thể hiện tinh thần và quyết tâm trên con đường cứu nước mà mình đã chọn của chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu:

“Có thể trục dài gió đông và biển qua,

Người lãng mạn nhất trong tất cả các nhà từ thiện."

(Muốn qua bể Đông theo gió,

Tất cả những con sóng bạc gửi ra biển.)

Anh có khát vọng lớn là đuổi gió dài khắp biển Đông. Khát vọng ấy thể hiện ý chí, khát khao hành động và tư thế của nhân vật trữ tình. Con người muốn bay theo gió để theo kịp thời đại. “Bể Đông”, “gió lộng”, “sóng bạc” là những hình ảnh thơ ẩn dụ vừa oai phong, hào hùng của Phan Bội Châu cho khát vọng vượt lên hiện thực đen tối để tìm đường cứu nước.

Tác giả “muốn” vì lí tưởng cao đẹp là vượt qua mọi khó khăn thử thách để đến đích, thực hiện hoài bão của người đàn ông trong cuộc đời. Bản dịch thơ của Tôn Quang Phiệt tuy chưa dịch sát nghĩa đen của chữ Nhất Kỳ Phi nhưng cũng đã phần nào thể hiện được nghị lực, lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần chiến đấu sục sôi của tác giả.

Trong bối cảnh của thời đại mới, con người cần phải có tư tưởng và hành động bắt kịp thời đại, để từ đó tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, đem lại tự do cho dân tộc. Và đối với Phan Bội Châu, con đường mới của ông là con đường sang Nhật Bản học tập, chuẩn bị lực lượng hùng hậu để chớp thời cơ giành lại độc lập cho Tổ quốc.

Bài thơ được viết theo thể Đường luật bảy chữ với giọng điệu hào hùng, hừng hực khí thế, có sức lay động những thanh niên yêu nước. " Chia tay khi ra nước ngoài ” khắc họa tâm trạng, khát khao tìm đường cứu nước của một nhà cách mạng đầu thế kỷ XX. Nhân vật trữ tình mang một vẻ đẹp mới, tràn đầy tinh thần của thời đại.

v.v. Kiến thức sâu rộng bài viết Lưu ý khi đi nước ngoài

Đầu tiên. Hoàn cảnh sáng tác Bài chia tay khi ra nước ngoài

– Năm 1905, trước khi lên đường sang Nhật, Phan Bội Châu viết bài thơ này để tiễn biệt bạn bè, đồng chí. Lúc này đất nước đã mất chủ quyền, tiếng hịch Cần Vương đã tắt. Tình hình đó đặt ra trước mắt những người yêu nước một câu hỏi lớn và day dứt: cứu nước bằng cách nào?

2. Sơ đồ tư duy Phân tích bài thơ Tiễn biệt người ra nước ngoài

So do tu duy Phan tich bai tho Luu biet khi xuat duong

Bàn về chí làm trai, có rất nhiều tác phẩm hay thể hiện những quan điểm khác nhau về lý tưởng anh hùng cách mạng của đấng nam nhi. Tuy nhiên khi phân tích bài Lưu biệt khi xuất dươngTa nhận ra một điểm nhìn mới, một cái nhìn rất mới về chí khí của chí sĩ Phan Bội Châu.

Tìm hiểu thêm bài viết các bài văn mẫu lớp 11 được trường THPT Chuyên Sóc Trăng sưu tầm và chọn lọc tại trường THPT Chuyên Sóc Trăng. Chúc bạn học tốt và đạt điểm cao!

Phân tích bài Tiễn biệt khi ra nước ngoài đơn giản hơn với hướng dẫn lập dàn ý chi tiết và tuyển tập những bài văn hay, phân tích bài thơ Lưu Đường xuất hành của Phan Bội Châu.

Đăng bởi: THPT Sóc Trăng

Thể loại: Giáo dục

Xem thêm: cách khôi phục tin nhắn đã thu hồi trên messenger

Bản quyền bài viết thuộc về trường THPT TP Sóc Trăng. Mọi sao chép đều là gian lận!

Nguồn chia sẻ: THPT Sóc Trăng (thptsoctrang.edu.vn)